Giám đốc liên minh phần mềm BSA: “không chi trả cho phần mềm bản quyền vì muốn tiết kiệm chi phí là một suy nghĩ rất sai lệch”

Xu Hướng & Thị Trường

Dù đã có nhiều tiến triển trong việc sử dụng phần mềm bản quyền tại Việt Nam nhưng tình trạng sử dụng phần mềm lậu, phần mềm bất hợp pháp vẫn còn rất phổ biến tại các doanh nghiệp, tiềm ẩn những rủi ro khôn lường về an ninh mạng, lộ lọt thông tin cá nhân của khách hàng.

Ông Tarun Sawney, Giám đốc phụ trách công tác chống vi phạm bản quyền khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Liên minh phần mềm BSA

Xin ông cho biết làm thế nào để BSA phát hiện các công ty đang sử dụng phần mềm không bản quyền? Trong hầu hết các trường hợp, các công ty có tự nhận thức về tình trạng này không?

Chúng tôi có 2 nguồn:

Nguồn thứ nhất đến từ những nguồn tin mật từ phía nhân viên tại các công ty, những người không hài lòng với việc công ty sử dụng phần mềm trái phép, họ chính là người cho BSA thông tin.

Nguồn thứ hai đến từ các cuộc điều tra do chính BSA tiến hành, chúng tôi sẽ kiểm tra thông tin cơ bản của các công ty. Lấy ví dụ với một công ty sản xuất túi du lịch chẳng hạn, để làm nên sản phẩm chắc chắn họ sẽ phải sử dụng phần mềm thiết kế, khi đó chúng tôi sẽ liên hệ với các công ty sản xuất phần mềm thiết kế nằm trong mạng lưới thành viên của BSA và tìm hiểu xem liệu công ty túi du lịch ấy có đang sử dụng phần mềm thiết kế do các công ty đó tạo ra hay không, nếu như không thì chúng tôi có những lý do để tin rằng công ty túi du lịch đang sử dụng phần mềm không bản quyền.

Tôi nghĩ ở thời điểm hiện tại, trong bất cứ công ty nào, phần mềm và con người chính là 2 yếu tố giúp cho công ty vận hành hiệu quả. Con người sử dụng phần mềm và các công ty đều tạo ra những sở hữu trí tuệ. Quay lại với công ty túi, họ thiết kế nên một chiếc túi và họ sẽ là người sở hữu mẫu thiết kế đó và cách để sản xuất nó. Tôi nghĩ đó là một điều cần được tôn trọng, và với phần mềm cũng vậy.

Để một công ty cho rằng phần mềm là miễn phí thì tôi nghĩ không hợp lý. Vì ở thời đại này, mọi người đều biết phải trả các loại chi phí để sử dụng phần mềm. Theo tôi các công ty đủ lớn để có phòng IT không thể nào nói rằng họ không biết việc này. Họ có thể tranh luận rằng tại công ty họ việc sử dụng phần mềm 80% là hợp pháp, 20% còn lại họ không biết. Nhưng hầu hết các cuộc thanh tra của Bộ Văn hóa, Thể thao – Du lịch đều cho kết quả 100% về việc các doanh nghiệp sử dụng phần mềm không bản quyền!

Vậy BSA đã làm gì để cảnh báo các công ty về những nguy cơ khi sử dụng phần mềm bất hợp pháp?

Chúng tôi làm việc với chính phủ để giáo dục các công ty về việc sử dụng phần mềm hợp pháp qua nhiều cách, thứ nhất là giáo dục. Chúng tôi đã chạy một dự án có tên Legalize and Protect vào năm ngoái, qua đó chúng tôi gửi 10.000 lá thư đến các công ty Việt Nam, và thực hiện những cuộc gọi điện thoại để khuyến khích họ sử dụng phần mềm có bản quyền và cảnh báo về những nguy cơ của phần mềm lậu. Đó là những phương pháp trực tiếp. Chính phủ, bên cạnh đó, cũng thực hiện những phương pháp gián tiếp.

Chính phủ có vai trò thế nào trong việc tuyên truyền sử dụng phần mềm bản quyền?

Nếu như một công ty sử dụng phần mềm lậu, họ sẽ có nguy cơ bị điều tra bởi chính phủ. Chính phủ sẽ đến công ty và kiểm tra máy tính, kiểm tra các phần mềm công ty đang sử dụng. Nếu trái phép, các công ty có thể phải đóng tiền phạt vì vi phạm luật bản quyền. Bên cạnh đó, họ có thể gặp nguy cơ về kiện tụng đến ngay từ phía những công ty sản xuất phần mềm.

Chúng tôi sẽ cố gắng lan truyền những trường hợp đó đến công chúng trên những trang báo, và các giám đốc cấp cao của công ty sẽ biết đến những nguy cơ này cũng như những trường hợp phải ra tòa. Và bản thân chính phủ cũng có những thông cáo báo chí, công bố số liệu các công ty đã bị điều tra bởi các đơn vị ban ngành.

Bên cạnh giáo dục, chúng tôi cũng chia sẻ những nguy cơ về mặt pháp lý, và chúng tôi cũng thực hiện những buổi phỏng vấn như thế này để những thông tin này được lan tỏa rộng rãi.

Ông có thể chia sẻ rõ hơn về cách thức BSA làm việc với chính phủ?

Chúng tôi kết hợp với chính phủ theo 2 cách. Thứ nhất, chúng tôi sẽ cung cấp cho chính phủ những thông tin, bằng chứng về các công ty mà chúng tôi tin họ đang sử dụng phần mềm không bản quyền. Khi đó chính phủ sẽ xem xét các bằng chứng và tiến hành những cuộc điều tra.

Thứ hai, chúng tôi sẽ thực hiện những chương trình đào tạo, hội thảo về quản lý tài sản phần mềm , những buổi họp báo, thông cáo báo chí cùng với chính phủ để thông báo đến cộng đồng về những nguy cơ của việc sử dụng phần mềm không bản quyền. Chúng tôi làm việc với chính phủ về mặt thi hành luật và truyền thông.

Hiện tỉ lệ sử dụng phần mềm không bản quyền ở Việt Nam so sánh với khu vực và thế giới ra sao, thưa ông?

Trên thế giới tỉ lệ hiện là 37%, Việt Nam hiện đang ở mức 74%, so với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói riêng là 57%. Có thể thấy Việt Nam đang ở mức cao hơn, tuy nhiên nếu so sánh với Việt Nam vào 15 – 20 năm trước khi con số lên đến gần 100%, thì hoàn toàn có thể nói Việt Nam là một trong số các quốc gia đã có những bước tiến đáng kể nhất trong khu vực, bên cạnh Trung Quốc.

So sánh với một số quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam vẫn xếp cao hơn Indonesia (83%), tuy nhiên thấp hơn Thái Lan (66%), Malaysia (51%). Để có được những bước phát triển này, BSA có lời cảm ơn đến chính phủ và Bộ Văn hóa, Thể thao Du lịch trong những nỗ lực giáo dục và thực thi luật để củng cố cho việc sử dụng phần mềm có bản quyền.

Tỷ lệ vi phạm phần mềm bản quyền tại Việt Nam đã có những cải thiện trong những năm qua

Ở Việt Nam, lĩnh vực hay ngành công nghiệp nào thường vi phạm về bản quyền nhiều nhất và lĩnh vực nào chấp hành nghiêm túc hơn?

Theo tôi, rất khó để xác định tỉ lệ của một ngành công nghiệp hay lĩnh vực nào nói riêng, mà đây là một thực trạng chung của quốc gia. Những thành viên cấp cao của công ty phải đồng ý cung cấp cho bộ phận IT của mình chi phí để thi hành việc sử dụng phần mềm bản quyền.

Tuy nhiên có nhiều người lãnh đạo cho rằng vì lý do tiết kiệm chi phí, họ sẽ không chi trả cho phần mềm bản quyền. Với tôi, đây là một suy nghĩ rất sai lệch, vì nó sẽ mang lại những mối nguy hại rất lớn cho công ty, từ việc mã độc tấn công, hack, đánh cắp thông tin công ty và dữ liệu khách hàng, từ đó danh tiếng của công ty sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, và một số trường hợp dẫn đến phá sản, vì các nhà đầu tư sẽ không tin tưởng một công ty không thể bảo vệ thông tin và dữ liệu khách hàng.

Có một con số cụ thể nào cho thấy thiệt hại của những công ty ở Việt Nam khi sử dụng phần mềm không bản quyền hay không? Và với những công ty chuyển sang sử dụng phần mềm có bản quyền, những quyền lợi của họ là gì?

Không có một con số cụ thể nào về các thiệt hại từ các công ty. Chúng tôi biết rằng, chi phí trung bình mà các công ty dành cho phần mềm rơi vào khoảng 7 – 11% chi phí vận hành của công ty, tuy nhiên mỗi công ty sẽ có những mức chi phí khác nhau nên rất khó để đánh giá về con số cụ thể.

Nếu họ có hệ thống quản lý tài sản phần mềm hiệu quả, có sự kiểm soát tốt từ phía các công ty, họ sẽ không gặp phải vấn đề mua quá nhiều phần mềm không cần thiết, và họ cũng sẽ nhận được những quyền lợi từ những cải tiến của phần mềm có bản quyền, những phiên bản mới. Công ty sẽ vận hành tốt hơn từ những lý do đó.

Những mối nguy hại chính đến từ việc sử dụng phần mềm không bản quyền là gì, thưa ông?

Những nguy cơ chính bao gồm thứ nhất là những nguy hại về mặt an ninh mạng, nguy cơ bị mã độc (malware) tấn công sẽ cao hơn khi sử dụng phần mềm không bản quyền, vì chúng ta không nhận được sự bảo vệ từ phía các công ty phát triển phần mềm.

Thứ hai là những nguy cơ về mặt pháp lý, vì các vi phạm về luật bản quyền tại Việt Nam. Vào tháng 1/2018, đã có sự thay đổi về luật, theo đó vi phạm bản quyền có thể được xem là tội hình sự. Vì vậy bên cạnh những khoản đền bù về mặt pháp lý, danh tiếng công ty cũng sẽ gặp phải những vấn đề, có thể họ sẽ bị thu hồi giấy phép kinh doanh, và nhận mức án phạt tương đương 3 tỉ đồng.

Trong quá trình thúc đẩy việc sử dụng phần mềm bản quyền, những thách thức và thuận lợi lớn nhất của BSA là gì?

Thách thức lớn nhất của chúng tôi là việc thuyết phục các ban lãnh đạo, các CEO, CFO, CIO, phòng ban IT để họ biết được những nguy cơ thực sự của an ninh mạng. Vào khoảng 10 năm trước đây, thì câu chuyện chỉ xoay quanh những vấn đề pháp lý. Tuy nhiên từ 2 – 3 năm gần đây, càng ngày càng có sự kết nối với Internet rộng rãi hơn, nguy cơ về an ninh mạng cũng trở nên cấp bách hơn.

Do chúng ta đã quá quen với việc sử dụng phần mềm không trả tiền, vì vậy thuyết phục ban lãnh đạo tự nguyện chấp hành luôn là điều khó nhất. Vì khi mọi thứ phát triển, thì các phần mềm mã độc cũng sẽ phát triển theo. Rất có thể một ngày bạn vào công ty và không thể nào đăng nhập và truy cập vào các dữ liệu của mình do đã bị hack, và kẻ xấu buộc bạn phải trả 10.000 USD để có thể lấy lại dữ liệu, việc đòi tiền chuộc lại thông tin (ransomware) đã là một vấn đề đang hiện hữu ngày nay.

Một báo cáo của FBI năm 2019, những tên tội phạm an ninh mạng đã kiếm được 3,5 tỉ USD từ những cuộc tấn công của mình. Hầu hết đến từ những hình thức như email và đường link độc hại, điền những thông tin bảo mật riêng tư, và gặp phải những nguy cơ đánh mất dữ liệu, bên cạnh những nguy cơ về ransomware như tôi đã chia sẻ.

Về những thuận lợi, chúng tôi nhận được sự ủng hộ từ phía chính phủ và báo chí, những đơn vị hiểu được tầm quan trọng của việc sử dụng phần mềm có bản quyền, những lợi ích của nó về mặt kinh tế cho đất nước. Tuy xã hội và cộng đồng chưa thực sự hiểu hết được những nguy cơ và lợi ích của nó, nhưng thực tế chúng ta vẫn có những con số cho thấy những bước cải thiện đáng kể, và chúng tôi vẫn còn một chặng đường dài để tiếp tục!

Tôi cũng tin tưởng về thị trường phần mềm cũng là nơi, để cho mọi người thỏa sức sáng tạo, tạo ra nguồn việc làm, để cho những ý tưởng được phát triển, và là một nơi mọi người đều có thể đóng góp ý tưởng. Chúng tôi sẽ cố gắng giáo dục những lý tưởng này đến cộng đồng.

Được biết, trước khi gia nhập BSA, ông từng là Phó Giám đốc khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ (MPAA), đại diện cho nhiều hãng phim hàng đầu Hollywood như Sony Pictures, Twentieth Century Fox,… trong lĩnh vực chống vi phạm bản quyền. Những kinh nghiệm đó đã đóng góp thế nào cho công việc hiện tại của ông?

Tôi từng học 3 năm về Chính trị tại Đại học, sau đó trở thành cảnh sát ở London (1981 – 1984) và từ đó tôi học về luật hình sự, sau đó có 12 năm làm cảnh sát ở Hồng Kong. Vì vậy, tôi có kinh nghiệm về thi hành luật và chính trị.

Sau đó khi công tác tại Hiệp hội Điện ảnh Hoa Kỳ, tôi thường làm những công tác thi hành luật nhiều hơn, khi điều tra tình trạng sử dụng VCD, DVD lậu. Khi tôi chuyển công tác sang mảng phần mềm doanh nghiệp, thì phạm vi công việc của tôi lớn hơn, vì có rất nhiều hình thức và hoạt động tại thị trường này.

Bên cạnh đó tôi cũng làm việc về chính sách, thuyết phục chính phủ về việc ban hành luật, làm sao đưa những quy trình, thủ tục về mặt phần mềm đến công chúng rõ ràng và làm thế nào ngành phần mềm phát triển hơn. Ngoài ra, tôi cũng có kinh nghiệm trong lĩnh vực bảo vệ sở hữu trí tuệ, có nền tảng về giáo dục, PR, và tất cả đều đóng góp cho những công việc hiện tại của tôi!

Theo VnReview

guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments

Bài viết liên quan

Pin It on Pinterest

Share This